Sunday, 3 January 2010

Đường băng nào cho nền kinh tế cất cánh?


Tác giả: TRẦN TRỌNG GIA TRÍ (THEO DOANH NHÂN SÀI GÒN CUỐI TUẦN)

Ba mươi lăm năm so với chiều dài lịch sử dân tộc không phải là dài, nhưng đối với một đất nước chật vật tìm con đường phát triển như chúng ta thì quả là khoảng thời gian ấy mang nhiều ý nghĩa của sự đổi thay.
Nền kinh tế trăn trở nhiều phen, biết bao con người nổi trôi theo số phận. Bây giờ là năm 2010, thành quả đổi mới gần một phần tư thế kỷ tuy chưa cho chúng ta thỏa mãn những ước mơ, nhưng rõ ràng đã đưa đất nước thoát khỏi một thời kỳ dài đầy khó khăn. Minh họa có tính thuyết phục cho thực tế này là thu nhập bình quân đầu người của chúng ta - theo Ngân hàng Thế giới - vào những năm cuối thập niên 1970 chỉ mới 40 USD, đến năm 2009 là 1.000 USD, vượt qua ngưỡng nghèo khó.
Số liệu này tuy chưa khả quan nhưng lại mang nhiều ý nghĩa khi mà cuộc chiến tranh dai dẳng và khốc liệt kết thúc vào năm 1975 đã làm tiêu hao biết bao nội lực của nền kinh tế. Nhiều nhà bình luận thời cuộc nước ngoài gần đây nhìn tình hình kinh tế Việt Nam 35 năm qua, đặc biệt là trong mấy năm gần đây, cho rằng chúng ta đã có những bước vượt khó thần kỳ. Tất nhiên cũng không nên để bị ru ngủ bằng những lời ngọt ngào, nhưng nếu đánh giá một cách công bằng thì có được như hôm nay không hề là chuyện đơn giản nếu chúng ta nhớ lại những ngày đầu...
Ảnh: videoviet.com
Mười năm sau ngày thống nhất đất nước, với một nền kinh tế lấy nông nghiệp làm nền tảng, hợp tác hóa nông nghiệp được coi là cơ sở tạo ra những giá trị để phát triển công nghiệp. Các dịch vụ thì được coi là phi sản xuất, còn khu vực kinh tế tư nhân được xem là một hình thức bóc lột. Hoạt động kinh tế trong những năm ấy lấy thương nghiệp quốc doanh làm nòng cốt nhưng giá cả không đồng nghĩa với giá trị mà chỉ để phục vụ cho công tác kế hoạch thống kê, doanh nghiệp quốc doanh thì chỉ biết chờ nguồn vốn do Nhà nước cấp phát.
Cho đến năm 1979, nền kinh tế kế hoạch hóa không mang lại tăng trưởng đáng kể, GDP chỉ tăng 0,4%/năm trong khi hằng năm dân số lại tăng 2,3%, điều này giải thích tại sao người dân cứ phải sống khổ, sống nghèo.
Tình hình xã hội ngày ấy có những diễn biến xấu với mức lạm phát lên đến 487% vào năm 1986, thêm vào đó là những dự báo không thuận lợi về nguồn viện trợ của Liên Xô, khẩu hiệu "Đổi mới" của chúng ta được ra đời trong một quyết tâm đi vào cơ chế kinh tế có xu hướng thị trường.
Vào năm 1991, biến động chính trị ở Liên Xô khiến nguồn viện trợ giảm dần và chấm dứt hẳn. Cơ chế thị trường từ công cuộc đổi mới không chỉ giải tỏa được áp lực về tài chính mà còn tạo sự tăng trưởng kinh tế ngoạn mục. Liên tục từ 1991 đến 1996, GDP tăng từ 6,1% lên 9,3%.
Đổi mới vẫn đơm hoa kết trái vào năm 1996 được biểu hiện qua tốc độ tăng trưởng GDP liên tục. Cùng lúc, bản chất hai mặt của kinh tế thị trường xuất hiện đầy đủ hơn đã tạo ra tâm lý lo sợ "chệch hướng" khiến một số chính sách bị điều chỉnh đã làm giảm đáng kể tốc độ phát triển. Thêm vào đó cuộc khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997 đã ít nhiều tác động khiến cho mức tăng trưởng vào năm 1998 chỉ vào khoảng 5,8% rồi 4,7% vào năm sau đó. Cùng lúc với sự sút giảm đầu tư nước ngoài khá nghiêm trọng là sự chựng lại của nền kinh tế mà sau lưng là một gánh nặng về cải cách hành chính và hơn 50% doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ.
Tình hình không mấy sáng sủa này đã thôi thúc chúng ta tìm cách vượt khó với chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm từ 2001 đến 2010. Đại hội IX của Đảng (năm 2001) đã đề ra mục tiêu đưa đất nước cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Theo các tiêu chí được đề cập khái quát trong một số văn kiện cũng như tài liệu của cơ quan nghiên cứu, về kinh tế chúng ta có thể nắm bắt được một số tiêu chí định hướng như sau:
- GDP từ 180 đến 200 tỉ USD. Tốc độ tăng trưởng GDP/năm giai đoạn 2006-2020 là 9,2-10%. GDP bình quân đầu người 1.800 - 2.000 USD.
- Tỷ trọng giá trị nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ trong GDP là 10 - 44 - 46%. Tỷ lệ xuất khẩu hàng chế tác trong tổng xuất khẩu hàng hóa là 75%. Tỷ lệ xuất khẩu hàng công nghệ cao trong tổng xuất khẩu hàng chế tác là 30%.
- Điện bình quân đầu người: 2.200 kwh/người.
- Tỷ lệ đường bộ rải nhựa (tỉnh, huyện, xã): 50-100%.
- Giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ: 108 tỉ USD.
- Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hằng năm: 9,4%.
- Về xã hội: dân số 100 triệu người. Tốc độ tăng dân số hằng năm dưới 1%. Tỷ lệ dân số sống dưới mức nghèo: dưới 5%. Tỷ lệ dân số thành thị: 50%. Chỉ số HDI: 0,8.
- Tỷ lệ chi phí cho giáo dục trong GDP: 5%. Tỷ lệ trẻ em nhập học trong tiểu học, trung học: 100%.
- Tỷ lệ chi phí cho y tế trong GDP: 4,1%. Tỷ lệ dân số sử dụng nước sạch (thành thị và nông thôn): 100%.
Điều đáng nói là nếu đạt được các tiêu chí định lượng này đến năm 2020, thì kinh tế Việt Nam cũng mới tương đương với Thái Lan ở thời điểm 2007.
Năm 2009, trải qua nửa chặng đường, nhưng chỉ đối chiếu một vài số liệu cũng đã không cho chúng ta có cái nhìn lạc quan về thành quả của quá trình công nghiệp hóa: GDP ở mức ở mức 82 tỉ USD, tốc độ tăng trưởng GDP trung bình trong những năm gần đây chỉ trên 7%, GDP bình quân đầu người mới ở mức 1.000 USD. Xuất khẩu thì sản phẩm xuất thô chiếm đa phần, tổng kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt chưa đến 60 tỉ USD, nhập siêu ở mức 12 tỉ USD.
Tất nhiên công nghiệp hóa còn bao gồm nhiều nội dung khác, như tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Đó còn là quá trình tăng cường nguồn lực khoa học công nghệ, thân thiện và bảo vệ môi trường theo quan điểm phát triển bền vững.
Và những định hướng trên đây, đã qua nửa chặng đường mà chúng ta vẫn còn ngổn ngang trăm mối, do tâm lý nóng vội phát triển kinh tế bằng mọi giá.
Nhiều chuyên gia kinh tế đã rất có lý khi nhận định quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của chúng ta đang vấp phải không ít trở ngại, chủ yếu là (1) Hạn chế khung pháp lý đối với việc kích thích lực lượng sản xuất qua ba bộ luật dành cho ba loại doanh nghiệp có nguồn gốc sở hữu khác nhau (nhà nước, tư nhân, nước ngoài), khó tạo nên một sức mạnh tổng hợp, (2) Định hướng phát triển doanh nghiệp chưa theo tín hiệu của thị trường trong một cơ chế kinh tế lạc hậu dựa trên lợi thế tài nguyên và (3) Nội lực là sức mạnh của các yếu tố sản xuất trong nước bao gồm con người, kỹ thuật, đất đai, tài nguyên, vốn liếng, nhưng đến nay vẫn chưa được phát huy đúng mức. Đặc biệt nhân lực - nguồn lực quan trọng nhất - thì việc đào tạo lại chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế.
Có thể nói đến nay thì ước mơ trở thành một nước công nghiệp trong vòng mười năm tới của chúng ta sẽ khó thực hiện. Nếu cố gắng của chúng ta không đạt được mục đích thì cũng nên xem đó là chuyện bình thường, nhất là khi cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đang diễn ra có thể kéo dài nhiều năm mà tác động của nó không chừa bất cứ nền kinh tế nào, giá cả thị trường thế giới biến động theo chiều hướng xấu, đầu tư nước ngoài giảm sút.
Nhìn lại lịch sử nước ta, công nghiệp hóa - hiện đại hóa không phải là sản phẩm của thế kỷ XXI. Vào năm 1863, Nguyễn Trường Tộ đã có một bản điều trần gửi vua Tự Đức đề xuất các biện pháp canh tân đất nước theo hướng công nghiệp hóa, như phát triển công nghiệp khoáng sản và luyện kim, vay vốn ngân hàng nước ngoài để phát triển công nghệ, học tập kiến thức hiện đại của phương Tây, mở rộng giao thương với thế giới. Nhưng đề xuất của ông đã không được vua quan triều Nguyễn nghe theo, vì thiếu thông tin từ bên ngoài nên không nhận thức đúng thời cuộc.
Phong trào Duy Tân và Đông Du của các chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh cuối thế kỷ XIX mang hoài bão lớn về một nước Việt Nam phát triển ngang tầm các nước tiên tiến cũng thất bại vì thiếu yếu tố con người, trong khi muốn tuyệt đối đi theo con đường của phương Tây mà bỏ qua yếu tố nội lực.
Đó là những bài học quý báu nếu chúng ta muốn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Yếu tố nội lực ấy chính là cơ cấu kinh tế hiện còn lạc hậu, rất cần được thay đổi. Mục tiêu hoàn thành công nghiệp hóa vào năm 2020 nên chăng trước tiên cần phải thực hiện bằng được mục tiêu hoàn thành chuyển đổi cơ cấu kinh tế với các định hướng cụ thể:
- Nông nghiệp là nguồn nội lực, là lợi thế cơ bản của nước ta, nhưng cũng là nhược điểm vì sử dụng quá nhiều lao động. Chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp là làm sao giải quyết được hai vấn đề: (1) Tăng năng suất lao động nông nghiệp để giảm bớt lao động khu vực này và (2) Tạo khả năng cung ứng lao động cho công nghiệp đang cần phát triển. Muốn làm được điều này, Nhà nước cần đầu tư thêm cho nông thôn và tạo điều kiện cho nông dân tích lũy để hướng tới nền nông nghiệp hàng hóa đa dạng, có giá trị gia tăng lớn.
- Trong công nghiệp, cần xem lại khái niệm chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước. Thành phần kinh tế này chỉ nên chiếm lĩnh các ngành then chốt, sử dụng nhiều vốn, kỹ thuật cao. Kinh tế tư nhân cần được tạo điều kiện hơn nữa để đầu tư vào các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, như sản xuất hàng tiêu dùng chẳng hạn. Cần phá vỡ thế độc quyền của doanh nghiệp nhà nước trong các lĩnh vực mà kinh tế tư nhân có điều kiện phát triển.
- Về thị trường, việc chuyển dịch cơ cấu cần nâng cao khả năng cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường nội địa rộng lớn lâu nay vẫn do hàng hóa nước ngoài chi phối, đặc biệt là các hàng máy móc, công nghệ, điện tử.
- Về đầu tư, Nhà nước cần tập trung nguồn vốn cho các công trình hạ tầng, vừa tạo nhiều việc làm cho người lao động vừa tăng giá trị đất đai và các nguồn tài nguyên khác.
Chiếc máy bay muốn cất cánh trên đường băng thì cần một vận tốc đầu thật cao. Nền kinh tế của chúng ta muốn nhanh chóng cất cánh trên đường băng cũng cần một tốc độ tăng trưởng thích ứng.
Với một cơ cấu kinh tế còn nhiều lực cản như hiện nay, liệu có đường băng nào đủ độ dài cho con tàu kinh tế của chúng ta cất cánh!

No comments:

Post a Comment