Tuesday, 27 April 2010

Nuôi thù hận, cản trở hòa hợp là có tội với tương lai



“Nếu ai đó trong chúng ta dù từng đứng từ phía nào mà vẫn nuôi lòng thù hận, cản trở hòa hợp dân tộc thì sẽ dần trở nên lạc lõng và thật sự có tội với tương lai của chính con cháu mình” – nhà ngoại giao kỳ cựu Võ Văn Sung nói.
Nhân dịp 35 năm sự kiện ngày 30/4/1975, Tuần Việt Nam vừa có cuộc trò chuyện với cựu đại sứ Võ Văn Sung - người còn lại duy nhất trong 5 thành viên chính thức đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa ký kết Hiệp định Paris lịch sử ngày 27/1/1973. Xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả.
Cuộc chiến càng kéo dài thì hòa hợp càng lâu và khó khăn
- Vậy là tròn 35 năm ngày đất nước thống nhất, non sông nối liền một dải. Không thể phủ nhận ý nghĩa vĩ đại của ngày 30/4/1975. Song sự nghiệp đặt ra sau khi thống nhất giang san là thống nhất lòng người dường như vẫn chưa hòan thành trọn vẹn. Bằng chứng là chúng ta vẫn phải nói về hòa  hợp dân tộc. Phải chăng 35 năm là một thời gian quá dài cho hòa hợp dân tộc?
Cựu đại sứ Võ Văn Sung: Chào VietNamNet và các độc giả của Tuần Việt Nam.
Trước hết tôi muốn nói rằng tôi đồng tình với ý tưởng VietNamNet thảo luận về hòa hợp để yêu thương. Đó là điều phù hợp với suy nghĩ và tấm lòng của con người, xét từ bản chất của mỗi chúng ta.
Mặt khác, khi bàn về vấn đề "hòa hợp dân tộc" ở nước ta sau chiến tranh chúng ta nên nhìn nhận và tiếp cận vấn đề không chỉ trên mặt tình cảm, mà cần thấy hiện thực cuộc sống nói chung và thực tế ở nước ta nói riêng. Như vậy là phải vừa có tình, vừa có lý.
Cái đích đấu tranh của dân tộc Việt Nam liên tục 30 năm kể từ năm 1945 đến 1975 chính là vì "Con người và Hạnh phúc con người". Để đạt tới mục tiêu đó trước hết có hai chặng phải vượt qua là giành Độc lập-Thống nhất cho đất nước và Tự do cho nhân dân. Sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta đích thực là sự nghiệp của "yêu thương con người" ở cả hai mặt đồng bào và đồng loại.
Kinh nghiệm thế giới cho thấy cuộc chiến càng dài và càng ác liệt thì quá trình hòa hợp sau chiến tranh càng lâu và khó khăn hơn. Những gì đã và đang xảy ra 35 năm qua ở Việt Nam chắc cũng không ngoài qui luật đó. Khi đặt vấn đề "hàn gắn lòng người" thì chúng ta thấy rằng những "vết thương lòng" không phải chỉ người Việt mới có, mà những công dân Mỹ và các quốc gia đối địch cũ như Pháp và Nhật cũng phải gánh chịu "hội chứng Việt Nam". Cho nên nhu cầu "hòa hợp dân tộc" cũng cần đặt trong bối cảnh chung của quá trình bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam với các nước từng đối đầu trước đây. Tiến trình này nhanh hay chậm không chỉ phụ thuộc vào ước nguyện của một phía mà phải do hội đủ tác động đa chiều của quan hệ chính trị thế giới hơn 30 năm qua.
Riêng đối với người Việt Nam, có thể nhận thấy vấn đề "hòa hợp dân tộc" tác động và ảnh hưởng khác nhau đối với từng thế hệ trong giai đoạn lịch sử vừa qua.
- Tâm trạng của những người thế hệ đi trước trực tiếp chứng kiến thời kỳ chiến tranh có phần tùy thuộc vị trí đã qua của từng người và gia đình họ, nhưng nhìn chung đối với thế hệ này dấu ấn để lại là rất sâu đậm và tùy theo việc làm của họ mà sự "day dứt" ở mỗi người có nội dung ra sao. Cho đến nay thì ở ngay lớp thế hệ đi trước này hầu hết cũng đều mong "hòa hợp dân tộc, hàn gắn lòng người".
- Đối với thế hệ hiện nay vào khoảng 40 tuổi thì có thể họ không có tâm trạng quá "nặng nề" như lớp người lớn tuổi nói trên.
- Với thế hệ sinh ra cùng với thời kỳ hơn 20 năm "Đổi mới" ở Việt Nam, có thể cảm nhận rằng nhiều người trẻ tuổi này không thể không thấy tự hào về thành quả của Tổ quốc, của dân tộc. Đương nhiên cũng như mọi người Việt Nam, họ cũng có ý kiến này, ý kiến khác, có khen ngợi, có phê bình về công việc chung của đất nước, chủ yếu với mong muốn cái tốt đẹp hơn nữa cho dân tộc, nhưng đó không phải là chủ đề hôm nay chúng ta đang đề cập về "hòa hợp và hàn gắn".
Cả hai phía đều có trách nhiệm chìa tay
- Khi nói về ngày 30/4, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói một câu cách đây 5 năm: "Đó là ngày có hàng triệu người vui và có hàng triệu người buồn". Là nhân chứng thời cuộc, ông chia sẻ thế nào với suy nghĩ này của ông Võ Văn Kiệt?
Như ông Võ Văn Kiệt đã nói thì thực tế đúng là như vậy và riêng tôi, tôi cũng nhận thấy như vậy. Bởi lẽ, hầu như tất cả các gia đình Việt Nam đều chịu mất mát tang thương do chiến tranh, nhất là ở miền Nam, phần lớn đều có tình trạng những thành viên trong cùng một gia đình từng tham gia cuộc chiến từ hai phía. Niềm vui ngày hoàn thành sự nghiệp độc lập-thống nhất cũng gợi nhắc lại nỗi đau chia rẽ và mất mát của một dân tộc bị chiến tranh xâm lược tàn phá suốt 30 năm ròng.
Nói về câu chuyện hoà hợp, có người đã gợi ý rằng, điều này phải làm từ hai phía, quan trọng hơn cả là phía những người trong nước phải chủ động "chìa tay" ra. Theo ông, "chủ động chìa tay" ra nên hiểu thế nào đây?
Theo tôi, nếu chữ "hai phía" với ý là người Việt Nam ở trong nước và ngoài nước có thể là chưa hoàn toàn đúng với thực tế. Vì cả trong nước và ngoài nước đều có "hai phía", cho nên ở đâu nếu gọi là thuộc "hai phía" thì đều có trách nhiệm "chìa tay".
Nhưng đây ý tôi nặng về thế hệ thứ nhất trực tiếp chứng kiến cuộc chiến tranh mà tôi đã đề cập. Còn đối với thế hệ thứ 2 và thế hệ thứ 3 thì tôi thực tâm nghĩ rằng họ đã "tay trong tay, lòng chung lòng" vì Tổ quốc và dân tộc từ lâu rồi.
Trong 20 năm qua, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm thúc đẩy hòa hợp dân tộc, tạo điều kiện cho bà con người Việt ở nước ngoài trở về thăm hoặc định cư và góp phần xây dựng lại quê hương. Đó chính là tinh thần "chủ động chìa tay" của Tổ quốc.
Tuy nhiên trong thực thi cụ thể thì còn gặp khó khăn về thủ tục hành chính và trở ngại do tâm lý "mặc cảm" và "định kiến" của những người vốn chưa thông chính sách, thể hiện qua thái độ không tích cực đáp ứng những chủ trương của Nhà nước. Điều này xảy ra trong cả bộ máy hành chính và cả trong số những người từng thuộc về "hai phía".
Lúc này nếu ai đó trong chúng ta dù từng đứng từ phía nào mà vẫn nuôi lòng thù hận, cản trở hòa hợp dân tộc thì sẽ dần trở nên lạc lõng và thật sự có tội với tương lai của chính con cháu mình.
Vì vậy theo tôi chỉ còn có cách là mỗi con dân Việt nam hãy cố gắng vượt qua "rào cản tâm lý", để sớm được "tay trong tay, lòng chung lòng" cùng đại gia đình Việt Nam.
Nhà ngoại giao lão thành Võ Văn Sung từng tham gia cuộc đàm phán bí mật Lê Đức Thọ-Kissinger từ năm 1971 đến 1974 và là người còn lại duy nhất trong 5 thành viên chính thức đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa ký kết bản Hiệp định Paris lịch sử ngày 27/1/1973.
Ông là đại sứ đầu tiên của Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Pháp kiêm đại diện của Chính phủ Việt Nam tiếp xúc với Hoa kỳ từ sau Hiệp định Paris cho đến năm 1979, đồng thời là bí thư Ban Cán sự Đảng Lao động Việt Nam tại Pháp, chỉ đạo phong trào Việt kiều ở Pháp và nhiều nước phương Tây.
Cuốn sách của ông mà VietNamNet từng có dịp giới thiệu với tựa đề "Chiến dịch Hồ Chí Minh giữa lòng Paris" do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành năm 2005 là một tập sử liệu hiếm có nhằm tri ân những người con dân Việt Nam ở Pháp và các nước phương Tây trong những ngày này 35 năm trước đã hướng về Tổ quốc góp phần đấu tranh cho hòa bình, độc lập và thống nhất nước nhà.
Trên thế giới, lịch sử của nhiều quốc gia cũng cho thấy họ đã từng trăn trở để hoà hợp dân tộc, thống nhất lòng người. Ví dụ câu chuyện của Hoa Kỳ hồi chiến tranh Nam - Bắc, để cuối cùng họ có một nghĩa trang chung. Là người đi nhiều, biết nhiều, ông có ý kiến như thế nào về câu chuyện hòa hợp của nhiều dân tộc trên thế giới?
Theo hiểu biết của tôi thì trên thế giới không có nhiều trường hợp giống như ở Việt Nam.
Câu chuyện ở Hoa Kỳ có hai việc: nội chiến Nam-Bắc và da màu. Đối với nội chiến Nam-Bắc đến nay có thể nói là xong, trở thành chuyện lịch sử. Tuy nhiên ngay cả trong nội chiến Nam-Bắc cũng có vấn đề da màu. Vấn đề phân biệt màu da qua 200 năm đã có nhiều thời kỳ lên, xuống, đến nay có nhiều tiến bộ, nhưng vẫn còn tùy khu vực. Việc một người Mỹ da màu đầu tiên trở thành Tổng thống như vừa qua là một bước có ý nghĩa lớn, nhưng theo tôi, từ đây cho đến lúc hoàn toàn "hòa hợp" còn dài. Ngoài ra không nên quên Hoa Kỳ cũng có thời kỳ chiến tranh giành độc lập vì trước đây là thuộc địa của Anh và thời đó họ đã cùng đoàn kết giành độc lập cũng như ở các nước khác.
Thật ra, những sự kiện xảy ra ở Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua là rất đặc thù. Vì thế chúng ta có thể xem xét học hỏi kinh nghiệm quốc tế, nhưng cũng không thể hoàn toàn hòa đồng vấn đề của ta với những trường hợp khác xảy ra trên thế giới. Bản chất cuộc chiến tranh Việt Nam vừa qua không phải là một cuộc nội chiến như đã từng xảy ra ở Mỹ, dù rằng có lúc đã có hàng triệu người Việt Nam đối đầu nhau từ hai phía.
Dân tộc Việt Nam đã kháng chiến trường kỳ chống các thế lực xâm lược liên tục 30 năm dưới ngọn cờ duy nhất của Hồ Chí Minh, trong đó giai đoạn cuối cùng từ sau khi ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973 đến ngày 30/4/1975 chỉ là hồi kết của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ngay cả trong giai đoạn này chính quyền Nguyễn Văn Thiệu cũng chưa bao giờ thoát ra ngoài vòng bảo trợ của Mỹ.
Nhìn nhận đúng mức về ông Dương Văn Minh
Quay trở lại câu chuyện của Việt Nam, thưa ông khi nói về ngày 30/4, nhiều người có ý tiếc bởi hồi đó, ông Dương Văn Minh có ý bàn giao chế độ nhưng các chiến sĩ của ta đã yêu cầu ông ấy phải đầu hàng vô điều kiện. Cũng trong bài trả lời phỏng vấn nhân 30 năm ngày thống nhất đất nước, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt có ý muốn đánh giá lại vai trò của ông Dương Văn Minh. Theo ông, nên nhìn nhận như thế nào về cho đúng về vấn đề này?
Ở đây có hai ý: vai trò của ông Dương Văn Minh và việc buộc nội các Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện.
Liên quan đến ý thứ nhất: Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thành công không phải chỉ dựa trên sức mạnh quân sự thuần túy, mà là được định đoạt bởi sức mạnh tổng hợp đấu tranh chính trị-quân sự-ngoại giao của toàn dân tộc Việt nam. Ở miền Nam tư tưởng đó phần nào được phản ánh trong thế trận "3 mũi giáp công". Tôi là một trong số những người trực tiếp tham gia quá trình nghiên cứu và thực hiện "vừa đánh, vừa đàm" trong cuộc đàm phán "bí mật" giữa ta và Mỹ tại Paris. Trong đó nội dung giải pháp có nhiều phương án, cả về quân sự và chính trị.
Trong các loại phương án giải pháp chính trị, tôi biết rằng ta có liên lạc riêng với ông Dương Văn Minh trao đổi về vai trò ông có thể giữ theo từng loại phương án với thu xếp của ta và thông qua người phía ta cài vào nội các của ông. Những động thái trên thực tế đã hạn chế ý chí kháng cự của quân đội Sài Gòn và làm tê liệt hệ thống hành chính của chế độ cũ trước thời khắc quan trọng ngày 30/4 đã thể hiện phần nào hiệu quả của một cuộc đấu tranh tổng lực bằng vận động giải pháp chính trị, nổi dậy tại chỗ phối hợp chặt chẽ với 5 mũi tiến công của các quân đoàn chủ lực quân giải phóng.
Chúng ta biết rằng vào thời điểm cuối tháng 4/1975 nếu Nguyễn Văn Thiệu và bè lũ còn nắm quyền và thực hiện "tử thủ" như ở Xuân Lộc thì chắc chắn ta không có một Sài Gòn giải phóng còn nguyên vẹn và chắc chắn phải hy sinh nhiều sinh mạng hơn.
Tôi từng được nghe kể lại việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không bằng lòng gọi một trận chiến tiêu diệt nhiều sinh mạng đối phương là một trận đánh đẹp, bởi Người cảm thông sâu sắc nỗi đau của những gia đình bị mất con em dù ở phía nào đi nữa. Người từng huấn thị trong kháng chiến là: "Đánh mà thắng là giỏi, đánh thắng mà tổn thất ít càng giỏi hơn. Không đánh mà thắng là giỏi hơn cả". Như vậy Chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng với tổn thất được hạn chế tối thiểu quả là một kỳ tích oanh liệt trong lịch sử quân sự.
Trên tinh thần đó, theo tôi ông Dương Văn Minh có mặt mà ta cần nhìn nhận đúng mức. Ngoài ra tôi biết rằng gia đình ông Dương Văn Minh có những người thuộc hàng ngũ ta như em trai ông lúc bấy giờ là sĩ quan cấp trung tá Quân đội nhân dân Việt Nam, hoặc như con trai ông là Dương Minh Đức là cốt cán của ta trong nhóm Việt ngữ, nòng cốt của phong trào Việt kiều tại Pháp trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Nay anh Dương Minh Đức đã qua đời nên tôi muốn nói rõ rằng Đức là cầu nối kín đáo giữa ta với ông Dương Văn Minh. Tôi chắc rằng những người thân đã có ảnh hưởng và tác động nhiều đến suy nghĩ và hành động của ông Minh. Tôi luôn tin rằng phần đông người Việt Nam mình đều có lòng yêu nước thương nòi, thường bộc lộ rõ nhất vào những thời điểm trọng đại của dân tộc.
Về ý thứ hai: Đơn vị quân giải phóng tiến vào Sài gòn đầu tiên đã buộc ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Về sự kiện này tôi nghĩ rằng anh em vào dinh Độc lập chắc là họ không thể làm khác trong không khí hừng hực tiến công lúc bấy giờ và làm sao anh em biết thực sự về việc ông Dương Văn Minh quan hệ với ta như tôi vừa kể trên. Vì vậy sau 35 năm nhìn lại sự kiện lịch sử, rất khó nói rằng có thể có cách gì khác hơn xảy ra vào thời điểm đó.
Đại lộ Đông Tây (Sài Gòn). Ảnh: Trọng Khiêm
Bao dung, độ lượng sẽ làm tan đi băng giá quá khứ
Từ góc nhìn của một nhà ngoại giao đã nhiều năm gắn bó với công tác Việt kiều, theo ông, chúng ta có thể làm gì hơn để không còn phải nói, phải bàn về vấn đề hòa hợp dân tộc, để ngày 30/4 sẽ là ngày vui của toàn dân tộc Việt Nam?
Tôi thấy rằng ngày 30/4 từ 35 năm nay đã là ngày lịch sử của dân tộc. Vì đó là ngày khao khát chờ đợi của bao thế hệ người Việt Nam, là ngày đánh dấu sự kiện một nước "nhược tiểu" đã bền bỉ "lấy sức ta tự giải phóng cho ta", thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, một kỳ tích có một không hai trong lịch sử thế giới với sự lãnh đạo của một con người đầy đức độ là Hồ Chí Minh.Tôi nghĩ khó có gì có thể làm lu mờ ý nghĩa lịch sử vĩ đại này.
Với ngày 30/4 chúng ta đã qua được chặng đường đầu tiên "Nước ta hoàn toàn độc lập" để tiếp tục thực hiện "Dân ta được hoàn toàn tự do" và tiến tới "Đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành", tức là thực hiện phương châm trước sau như một của nước Việt Nam kể từ ngày quốc khánh 2/9/1945 là "Độc lập-Tự do-Hạnh phúc".
Trong 35 năm qua, xét về quan hệ quốc tế chúng ta được chứng kiến một nước Việt Nam đã "hòa giải" tốt đẹp với các đối thủ cũ là Nhật và Pháp và hôm nay quan hệ với Hoa Kỳ cũng đang ngày càng thân thiện. Cả ba nước đã và đang trở thành đối tác chiến lược và đối tác hàng đầu của Việt Nam. Đó là thiện chí của tất cả các phía, nhưng cũng là minh chứng cho truyền thống hòa hiếu cao thượng của dân tộc Việt Nam.
Trong hoàn cảnh chung như vậy, những người Việt Nam ở các nước đó đang giữ mối liên hệ rất gắn bó với bà con mình trong nước và họ đang đầu tư bằng nhiều cách về cho gia đình và cho đất nước. Các cựu chiến binh, vốn là những người trực tiếp đối đầu quyết liệt trước đây từ hai phía, nay trở thành lực lượng tích cực giao lưu, tăng cường hiểu biết lẫn nhau để hòa hợp và hàn gắn vết thương. Đối với tâm lý của nhiều người trong thế hệ trước, điều này không dễ dàng chút nào, nhưng tấm lòng bao dung, độ lượng sẽ làm tan đi băng giá của quá khứ.
Những lời Chủ tịch Nguyễn Minh Triết và các nhà lãnh đạo Việt Nam đã phát biểu với bà con Việt kiều khi sang thăm Hoa Kỳ và nhân dịp Tết Nguyên đán vừa qua chứng tỏ Chính phủ đang cố gắng cải thiện tốt hơn môi trường trong nước để "mở rộng vòng tay" đón nhận tất cả những người con Việt Nam về với đất nước.
Từ trải nghiệm của tôi trong nửa thế kỷ gắn bó với Việt kiều, tôi tin chắc rằng sâu thẳm trong mỗi con người, hầu hết chúng ta đều có tấm lòng với đất nước, mong cho quê hương được hòa bình và gia đình được hạnh phúc. Đấy chính là mẫu số chung của những người con dân Việt Nam và cùng với tấm lòng bao dung, độ lượng, đó sẽ là cơ sở vững chắc cho "hòa hợp dân tộc" và "hàn gắn lòng người".
Vì vậy, chúng ta có thể tin vào một tương lai tốt đẹp không chỉ của riêng đồng bào mình, mà là tương lai của dân tộc ta hòa cùng với các quốc gia khác trên thế giới đang xích lại gần, hội nhập, gắn bó với nhau.
Con đường đi lên hạnh phúc của dân tộc Việt Nam còn lâu dài, khó khăn, nhưng nếu kiên trì "Đổi mới" chắc là chúng ta sẽ thành công.

Cùng một dân tộc hà cớ gì không thể hoà hợp?

"Với Mỹ, chúng ta sẵn sàng “gác” quá khứ, để hợp tác, nhìn về tương lai, thì không lý do gì, người cùng một dân tộc, cùng một tổ quốc, mà không thể hòa hợp, đoàn kết với nhau để xây dựng tương lai cho đất nước mình" - Nguyên Phó Chủ tịch Nước Nguyễn Thị Bình nói.
LTS: Khi nói về câu chuyện hàn gắn lòng người, Nguyên Phó chủ tịch Nước Nguyễn Thị Bình quả quyết: "Cùng một dân tộc, cùng một tổ quốc, hà cớ gì không thể hoà hợp". Tuần Việt Nam xin giới thiệu cuộc trò chuyện với bà Nguyễn Thị Bình nhân dịp 35 năm ngày đất nước thống nhất.
Những vết thương lòng rất sâu đòi hỏi thời gian và sự kiên trì
- Thưa bà, khi lật giở lại trang sử của dân tộc, người ta thấy rằng ý tưởng về hòa hợp dân tộc đã được đề cập trong Hiệp  định Paris 1973. Là người trực tiếp tham gia đàm phán và ký kết Hiệp định này, bà có thể  nói gì về chủ trương hòa hợp dân tộc lúc  đó?
Nguyên Phó chủ tịch Nước Nguyễn Thị Bình: Nói về cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước vừa qua, mọi người đều hiểu đó là cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam từ Nam chí Bắc chống sự xâm lược của  Mỹ, để giải phóng dân tộc, giành độc lập và thống nhất đất nước.
Cũng có người cho rằng cuộc chiến tranh có yếu tố nội chiến do chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ, đã đẩy một số người Việt Nam chống lại  nhân dân của mình.
"Chúng ta giành thắng lợi hoàn toàn ngày 30/4 với kết quả một thành phố Sài Gòn nguyên vẹn và sau giải phóng Miền Nam, không hề có "tắm máu" chính là nhờ chính sách hòa hợp dân tộc của  Đảng, Nhà nước và nhân dân ta"Bà Nguyễn Thị Bình. Ảnh: Thu Hà.
Về vấn đề hòa giải hòa hợp dân tộc: thực tế là từ đầu, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam đã giương cao ngọn cờ đoàn kết dân tộc nhằm tập hợp mọi người Việt Nam không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân tộc, cùng nhau chống xâm lược, bảo vệ độc lập và thực hiện thống nhất nước nhà.
Cuộc chiến đấu càng thắng lợi, kẻ thù càng suy yếu, cô lập là cơ hội cho nhiều lực lượng chính trị  ở miền Nam chống Mỹ, không tán thành chính quyền Thiệu... được hình thành. Có thể xem đây là quá trình phân hóa, hòa hợp....
Và năm 1972, sau 4 năm đàm phán tại hội nghị Paris, các bên đã đi đến thỏa thuận: Mỹ sẽ rút quân hoàn toàn ra khỏi miền Nam; còn vấn đề chính trị miền Nam sẽ do các bên Việt Nam giải quyết. Để thực hiện điều nầy, một Hội đồng hòa giải, hòa hợp dân tộc sẽ được thành lập để chuẩn bị cuộc Tổng tuyển cử ở miền Nam. Hội đồng hòa giải, hòa hợp dân tộc gồm 3 thành phần: chính quyền Sài Gòn, chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam và các lực lượng chính trị khác.
Chúng ta giành thắng lợi hoàn toàn ngày 30/4 với kết quả một thành phố Sài Gòn nguyên vẹn và sau giải phóng Miền Nam, không hề có "tắm máu" chính là nhờ chính sách hòa hợp dân tộc của  Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Hòa giải, hòa hợp dân tộc xuất phát từ truyền thống khoan dung, nghĩa tình của dân tộc ta từ xưa.
- Bà vừa nhắc đến lực lượng thứ  ba. Trong các bài viết của giới nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam chưa đề cập nhiều đến lực lượng này. Lực lượng này có vai trò như thế nào trong cuộc chiến?
Bà Nguyễn Thị Bình giữ cương vị Trưởng phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, rồi Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tham gia Hội nghị 4 bên về hoà bình cho Việt Nam tại Paris trong giai đoạn 1968-1973. Trong suốt thời gian này, bà nổi tiếng trong các cuộc họp báo tại hội nghị 4 bên tại Paris, với phong cách ngoại giao lịch lãm và duyên dáng, và được giới truyền thông gọi với cái tên quen thuộc "Madame Bình".
Bà là 1 trong những người đại diện các bên ký kết Hiệp định Paris năm 1973 và là người phụ nữ duy nhất đặt bút kí vào Hiệp định. Bà cũng từng giữ chức vụ Phó Chủ tịch Nước Việt Nam từ 1992 đến 2002.

Nhiều người ngại nói đến lực lượng ba... Theo tôi lực lượng này đã có sự đóng góp nhất định vào thắng lợi của nhân dân ta. Đó là một thực tế.
Năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch, là tổ chức rộng lớn được thành lập theo chủ trương của Đảng. Năm 1969, có Liên minh các lượng dân tộc, dân chủ, hòa bình của Luật sư Trịnh Đình Thảo ra đời.
Đến năm 1972, nhiều cá nhân và nhóm chính trị rất đa dạng được hình thành: Có ngưới và nhóm do Mặt trận vận động tổ chức, có cá nhân, nhóm không có liên hệ với Mặt trận, nhưng hoạt động hướng theo mục tiêu đấu tranh của Mặt trận... Đó là lực lượng ba. Bà Ngô Bá Thành, Luật sư Trần Ngọc Liểng... là một trong những lực lượng đó. Trong nhóm ông Dương Văn Minh cũng có người của lực lượng ba ..v.v..
Từ Pháp, một  số số Việt kiều do chúng ta vận động cũng đã về miền Nam, như bà Tôn Nữ Thị Ninh, anh Trần Hà Anh, chị Thái Thị Ngọc Dư...
- Thưa bà, vì sao dần dần lực lượng ba ít được nhắc tới?
Khi chiến tranh chấm dứt, hòa bình được lập lại, giang sơn thu về một mối, Mặt trận xem nhiệm vụ lịch sử của mình đã hoàn thành, cùng với Mặt trận Tổ quốc ở miền Bắc, thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Nước CHXHCN Việt Nam cũng từ đó ra đời. Tình hình của Liên minh và các tổ chức khác cũng như vậy.
Ngoài ra còn có một nguyên do khác là không phải ai cũng hiểu về đấu tranh bí mật. Vì không nắm được thông tin nên có những người ngại nói về nó.
- Tinh thần hoà hợp hoà hợp dân tộc đã có từ trong Hiệp định Paris 1973, vậy tại sao đến lúc này chúng ta vẫn phải nói nhiều về nó?
Hai mươi năm chiến tranh là một thời gian rất dài với biết bao đau thương, tang tóc do cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo của Mỹ và đặc biệt do chính sách "Việt Nam hóa" chiến tranh thâm độc của chúng. Sự mất mát, đau khổ ở cả hai phía, trong nhiều gia đình Việt Nam. Có những vết thương lòng rất sâu nên sự hàn gắn không dễ dàng, đòi hỏi thời gian...
Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách trong vấn đề này, nhưng tôi nghĩ cần phải quan tâm và kiên trì hơn nữa.
Cuộc chiến đấu mới cần sự chung sức chung lòng của mọi con dân Việt
- Khi nói về mục tiêu hòa hợp dân tộc, có  thể thấy đó là  nỗi khắc khoải của số đông người dân Việt Nam ở  trong nước và ở nước ngoài. Có người gợi ý, nên chăng những người chiến thắng - những người trong nước, nên chìa tay ra trước?
Nhiều người từng ra đi, đã trở về. Dĩ nhiên cũng còn nhiều người vẫn chưa hiểu rõ chính sách của Nhà nước, hoặc còn mặc cảm... hoặc có một số, tôi tin không nhiều, vẫn giữ một thái độ thù địch đối với chế độ, đối với đất nước.
"Cùng một dân tộc, hà cớ gì không thể hoà
hợp". Bà Nguyễn Thị Bình. Ảnh: Thu Hà.
Nếu nghĩ rằng những người "chiến thắng" phải chủ  động ra tay trước, thì thực tế Đảng, Nhà  nước và nhân dân ta đã chìa tay ra, tạo điều kiện để người Việt Nam khắp nơi có thể trở về, xây dựng quê hương.
Với  Mỹ, chúng ta sẵn sàng "gác" qua khứ, để hợp tác, nhìn về tương lai, thì không lý do gì, với người cùng một dân tộc, cùng một tổ quốc, mà không thể hòa hợp, đoàn kết với nhau để xây dựng tương lai cho đất nước mình.
- Nhiều người nhận xét Nhà nước cũng đã chăm lo lợi ích vật chất một cách tương đối cho Việt kiều. Nhưng có nhiều trí thức ngòai nước nói rằng lợi ích vật chất cũng quan trọng đấy nhưng điều mà họ cần hơn là môi trường để cống hiến, được trọng dụng. Liệu chúng ta có thể đột phá như Trung Quốc mời Hoa kiều về nước tham gia vào bộ máy nhà nước hay không?
Thực ra, chúng ta có những Việt kiều, trong đó có trí thức về nước và tham gia vào các cơ quan của nhà nước như Giáo sư Nguyễn Ngọc Trân- Việt kiều Pháp,  Bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà, Tiến sĩ Bùi Kiến Thành. Ở các trường đại học có không ít giáo sư Việt kiều tham gia giảng dạy.
Nhưng theo tôi, Nhà nước phải làm nhiều hơn nữa để thu hút người tài, vì công cuộc xây dựng đất nước của chúng ta đang rất cần họ. Việc phát huy và ứng xử tốt đối với trí thức trong nước, cũng sẽ có tác dụng thu hút trí thức ngoài nước nhiều hơn.
- Như bà đã nói, trong chiến tranh, chúng ta đã tập hợp được nhiều thành phần rộng rãi dựa trên nền tảng chung là lòng yêu nước, vì mục tiêu chung là độc lập dân tộc. Vậy thì bây giờ làm thế nào chúng ta tập hợp rộng rãi được những con người, có thể khác biệt về quan điểm, chính kiến, nhưng có chung cái tâm muốn đóng góp cho sự phát triển của đất nước?
Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta cũng có mục tiêu chung đấy thôi. Chúng ta đã giành được độc lập nhưng đất nước còn nghèo, còn thua kém nhiều nước xung quanh. Về mặt dân tộc, họ không có gì nổi trội hơn dân tộc Việt Nam cả nhưng họ lại hơn chúng ta về trình độ phát triển kinh tế - xã hội.
Bởi vậy, phải làm thế nào để xây dựng và phát triển một nước Việt Nam phồn vinh và vững mạnh, một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Trước mắt là tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Đó là mục tiêu mà với mọi người Việt Nam yêu nước ai cũng thấy day dứt.
Đây là cuộc đấu tranh với những mục tiêu rất to lớn, nhưng cũng đầy khó khăn, thử thách đối với nhân dân ta. Bác Hồ đã nói: Độc lập, tự do mà người dân chưa được ấm no, hạnh phúc thì độc lập, tự do chưa có ý nghĩa.
Vì vậy, trong cuộc chiến đấu mới của nhân dân ta để phát triển đất nước, cần sự đóng góp tích cực của mọi người Việt Nam, trong nước và ngoài nước, không phân biệt quan điểm, chính kiến.
Tôi nghĩ cần làm cho tất cả người Việt Nam hiểu được điều đó: mọi người đều có nghĩa vụ, và mọi người đều có quyền lợi trong Tổ quốc của mình. Đồng thời Đảng và Nhà nước cần có thêm chính sách, để tạo thêm điều kiện cần thiết, đặc biệt có những chương trình hoạt động cụ thể để thu hút sự tham gia của bà con Việt kiều trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, trong kinh doanh...

Có những con đường hòa hợp để yêu thương

Có hận thù được hóa giải ngay sau bao nhiêu máu đổ. Có hàn gắn phải mất vài thập kỷ. Nhưng có những đối đầu về ý thức hệ kéo dài hơn nửa thập kỷ vẫn chưa ngã ngũ. Tạm gác ý thức hệ để hòa hợp và yêu thương, cũng là một cách nhân loại giúp nhau phát triển.
Cuối tuần trước, tôi đưa bọn trẻ ra chơi trên Quảng trường quốc gia (National Mall) ở Washington DC. Nơi đây, mỗi tượng đài, nhà tưởng niệm, khu vườn, viện bảo tàng hay hồ Tidal Basin đều mang một ý nghĩa đặc biệt.
Thả hồn trên quảng trường, chợt nghĩ về số phận các dân tộc được định đoạt khác nhau và đưa đến vị thế khác nhau chỉ vì cách hòa hợp và yêu thương rất khác nhau.
Chiến tranh Triều Tiên - nỗi ám ảnh 6 thập kỷ
Người viết bài này nhớ lại lần đầu đến thăm bức tường chiến tranh Triều Tiên. Ai mới nhìn qua cũng có thể biết sự khốc liệt của cuộc chiến vẫn còn đó. Tượng những người lính cầm súng xung trận, cuộc chiến tranh liên Triều khốc liệt vẫn như hiện lên trước mắt. Giống một ám ảnh, một định mệnh, tượng đài chiến tranh như chưa hề tan khói thuốc súng, nên tới nay bóng ma chiến tranh vẫn thoắt ẩn hiện, dù đã 60 năm trôi qua.
National Mall. Ảnh: HM
Năm 1950, quân đội Bắc Triều Tiên tấn công Nam Triều Tiên để giải phóng đất nước. Liên Xô, Trung Quốc, rồi Mỹ tham chiến. Cuộc chiến tranh hao người tốn của cho cả hai phía cuối cùng vẫn kết thúc ở vĩ tuyến 38 như trước.
Sau sáu thập kỷ, Triều Tiên vẫn bị chia cắt. Chưa có hóa giải dân tộc nào thành công. Bắc Triều Tiên trở thành quốc gia biệt lập với thế giới, Nam Triều Tiên đã hội nhập từ lâu.
Bức tường chiến tranh Triều Tiên. Ảnh: HM
Sự thù địch về ý thức hệ đã đẩy đất nước tới con đường chia cắt. Bom đạn dường như lúc nào cũng sẵn sàng nổ trên đất nước này. Xót xa hơn, trong thế kỷ 21 mà hàng chục triệu người dân vẫn sống nghèo khổ, chỉ vì người ta không biết tha thứ, hòa hợp và yêu thương.
Bức tường Chiến tranh Việt Nam - đè nặng 35 năm
Bao nhiêu nước mắt đã rơi trên con đường nhỏ dưới chân tường hình chữ V. Có biết bao nhiêu người Mỹ đã từng chua xót, ngậm ngùi... khi đứng trước bức tường im lặng mà nói lên rất nhiều điều về kiếp người mỏng manh trước những hận thù ý thức hệ, để chỉ nhìn thấy họ tên người thân yêu của mình, những người lính buộc phải chết trận cho những tham vọng... không phải của mình.
Họ tên 58 ngàn lính Mỹ tử trận được khắc lên những tấm đá hoa cương. Và cuộc chiến ấy cũng đã để lại mất mát vô cùng to lớn cho Việt Nam với mấy triệu người ngã xuống.
Đã có ba triệu du khách tới thăm viếng bức tường im lìm này hàng năm. Dù mùa Đông giá lạnh hay ngày Hè nóng bức, dù mùa Xuân hoa nở hay mùa Thu lá vàng. Chỉ nhìn những tấm đá lạnh lẽo cũng đủ thấy sự ám ảnh, sự lạnh buốt của cái chết và sự khốc liệt của cuộc chiến bên kia đại dương.
Suy ngẫm. Ảnh: NV Quang
Chiến tranh đã lùi xa 35 năm, thế nhưng hậu quả nặng nề vẫn còn khắp nơi. Bom mìn sót lại là nỗi ám ảnh cái chết rất có thể xảy ra bất ngờ ngay khi cuộc sống đã bình yên, và người ta đã tính, phải mất 400 năm nữa, mới có thể dọn sạch. Di chứng da cam để lại hệ lụy bi thảm cho hàng triệu người.
Người Mỹ đã hòa giải với Việt Nam 15 năm nay. Ở thế giới bên kia, linh hồn những người tử trận của hai phía đã làm bạn với nhau và quên cả cuộc chiến tranh đó rồi. Nhưng trên mặt đất, đâu đó vẫn còn sự chia rẽ trong lòng của kẻ ở người đi, về mầu cờ hay bài hát.
Vẫn còn tiếng vọng về ý thức hệ làm át đi ý định hàn gắn. Đó mới là thứ bom mìn hay di chứng da cam nguy hiểm, dù trên bức tường chiến tranh không hề có biểu tượng súng ống. Chỉ có nhứng phiến đá in rõ cả bầu trời lẫn hàng cây xanh.
Thế chiến thứ 2 và sự hòa nhập của Châu Âu
Nằm gần giữa National Mall là Đài tưởng niệm Chiến tranh Thế giới thứ hai với biểu tượng 50 bang nước Mỹ. Nửa triệu lính Mỹ đã bỏ mạng. Quanh đài phun nước hoành tráng hình bầu dục, du khách tưởng mình đang hòa nhập với thế giới hòa bình.
Cách đây hàng thế kỷ, người Đức từng tự hào là dân tộc thượng đẳng, không chấp nhận dân Do Thái thông minh hay quí tộc Ba Lan được sống chung dưới một bầu trời. Xích sắt của xe tăng, đại bác nổ đã cướp đi sinh mạng mấy chục triệu người.
Dân Do Thái bị thiêu trong lò. Người Ba Lan bị giết hại khoảng 6 triệu người, bằng 1/5 dân số. Sự căm thù đối với nước Đức là tột cùng.
Nhưng rồi đên một ngày, nước Đức phải giơ cờ trắng ra hàng Hồng quân Liên Xô ngay tại sào huyệt của chủ nghĩa phát xít. Nước Đức chia đôi bởi bức tường Berlin. Tây Berlin phát triển theo đúng qui luật kinh tế thị trường, Đông Berlin dù mạnh nhất phe XHCN cũng không thể nào sánh nổi với Tây Đức.
Ngày thống nhất nước Đức cuối cùng đã đến, dù muộn hơn 45 năm so với sự hòa giải Mỹ-Nhật. Ước mong thống nhất, tình yêu thương đã làm nên nước Đức hùng mạnh ngày nay.
Ba Lan, Tiệp khắc, Hungari cùng với các nước Tây Âu lập nên EU, một "quốc gia" châu Âu bao gồm các quốc gia, một sức mạnh kinh tế và quân sự của thế giới. Kẻ gây ra chiến tranh đã hối cải, sát cánh với những nạn nhân, quên quá khứ, hướng tới tương lai nên mới có hàng chục quốc gia tiêu chung đồng tiền euro và đi lại không cần visa.
Ý thức hệ Đức thượng đẳng, mặt trời nước Anh không lặn, niềm kiêu hãnh thuộc địa của Pháp, cuối cùng, đã không còn chỗ đứng trong EU này.
Tidal Basin - hồ nước yên bình hóa giải mối hận thù
Đài tưởng niệm thế chiến II. Ảnh: HM
Khi tháng Tư và mùa Xuân về, hàng triệu du khách dạo quanh hồ Tidal Basin ngắm hoa anh đào Nhật nở rực rỡ giữa thủ đô Washington DC. Rất nhiều người từ Tokyo bay sang tận đây để chiêm ngưỡng những bông hoa có nguồn gốc từ chính đất nước họ. Thật lạ lùng, anh đào Nhật trồng bên DC, nở đẹp hơn trên núi Phú Sỹ.
Để có những cánh hoa mỏng manh rơi trên mặt hồ Tidal Basin phẳng lặng, hai dân tộc Mỹ - Nhật đã phải trải qua những sóng gió dài hàng thế kỷ.
Năm 1912,  thành phố Tokyo tặng Washington DC một món quà 3000 cây hoa anh đào, thể hiện mối tình hữu nghị những năm tháng êm đềm. Sau Thế chiến II, vào năm 1965, người ta trồng thêm 3800 cây nữa để phủ kín xung quanh bờ hồ, những mong hoa anh đào giúp xoá đi nỗi đau chiến tranh tàn khốc giữa hai dân tộc.
Ngày 7-12-1941, người Nhật bất ngờ tấn công Trân Châu Cảng, phá tan căn cứ hải quân của Hoa Kỳ tại đảo Hawaii. Đây là trận đánh đi vào lịch sử chiến tranh thế giới thứ II và cũng mở đầu cho cuộc chiến Mỹ-Nhật. Tổng thống Franklin D. Roosevelt tuyên bố: "Ngày 7 tháng 12 năm 1941 sẽ mãi là một ngày ô nhục".
Sau đó là cuộc chiến cướp đi sinh mạng hàng triệu người và được kết thúc bởi hai trái bom nguyên tử ném xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki. Khoảng hai trăm ngàn người bị thiêu cháy hoặc vùi trong đống gạch vun.
Hoa đào bên hồ Tidal Basin, hóa giải những hận thù. Ảnh: Ngọc Dung
Người Nhật vốn trọng nghĩa khí, thất bại trên không thể chấp nhận được. Cả dân tộc được nuôi dưỡng trong huyền thoại Thiên Chiếu Đại Thần.
Thấy đất nước hoang tàn, vua Chiêu Hòa bất ngờ lên đài phát thanh tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Đó là bước ngoặt trong ý thức hệ của người anh cả da vàng dù người Nhật tưởng mặt trời  không bao giờ tắt trên đất nước mình.
Thiên Hoàng chuyển sang thành người của dương gian để hòa hợp hàng triệu người thất trận.Tướng Douglas MacArthur, chỉ huy lực lượng Đồng Minh, biết quên đi nỗi ô nhục Trân Châu Cảng, không truy tố vị vua nước Nhật.
Đó chính là chiếc chìa khóa mở ra tương lai cho một quốc gia bại trận tiến lên, trở thành cường quốc kinh tế thế giới sau 30 năm phát triển. Thủ đô Washington có thêm những cây anh đào, hoa nở đẹp mê hồn mỗi khi xuân đến bên Tidal Basin.
Phải chăng đó là sự hóa giải lòng hận thù thành tình hữu nghị vĩ đại nhất sau thế chiến thứ hai?
Hòa hợp để Yêu thương
Hòa hợp để yêu thương thế nào ư? Vừa dễ mà cũng vừa khó. Dễ vì bắt đầu lúc nào cũng được, nhưng khó nhất là con người ta có dám làm không. Ai, dân tộc nào, cộng đồng nào dám từ bỏ ý thức hệ để thay bằng một ý thức nhân loại, thay một định kiến cá nhân bằng một phổ quát toàn cầu, thay xây hạnh phúc quốc gia bằng hòa hợp và hữu hảo với cả thế giới?
Nếu tiếp tục sự ích kỷ của một người, một cộng đồng, hay một quốc gia thì sự chia cắt đất nước như bán đảo Triều Tiên sẽ còn mãi. Đau khổ trong chia ly thuộc về người dân, mất mát và đổ máu cũng thuộc về người dân.
Người Nhật tự do bay sang DC ngắm hoa anh đào vì đã biết xóa bỏ quá khứ đau đớn, dùng đó cho bài học tương lai.
Hòa hợp để Yêu thương. Ảnh: NV Quang.
Châu Âu không cần visa và tiêu một đồng tiền chung vì mười mấy quốc gia đã ngồi cùng nước Đức gây bao tội ác để bàn về một ý thức hệ mà cả nhân loại mong đợi, đó là toàn cầu hóa và hội nhập.
Mải nghĩ, ba cha con tôi quay về bức tường chiến tranh Việt Nam lúc nào không biết. Những tấm đá như chìm dưới mặt đất, chôn đi quá khứ phũ phàng. Vài người cựu chiến binh già lặng lẽ tìm gì đó trên tường, thấy cả bóng mình và đất trời trong đó.
Có thể họ đang suy ngẫm về những gì đã mất, làm gì để đau thương ngày hôm qua không còn đeo đuổi.
Cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc 35 năm. Nếu không biết hóa giải hận thù, xóa bỏ những định kiến cá nhân, không biết tạm gác ý thức hệ xa lạ sang một bên để đặt quyền lợi dân tộc lên trên, thì chính người đang sống đã vô ơn những người đã khuất.
Máu của người đã trở về vĩnh viễn trong cát bụi hẳn không phải để nuôi dưỡng sự hận thù. Người nằm lại chiến trường cũng chính là để mầm sống nảy nở, đơm hoa kết trái, giúp cho sự hòa hợp để yêu thương đến sớm hơn với đồng loại.