Sunday, 3 January 2010

Đường băng nào cho nền kinh tế cất cánh?


Tác giả: TRẦN TRỌNG GIA TRÍ (THEO DOANH NHÂN SÀI GÒN CUỐI TUẦN)

Ba mươi lăm năm so với chiều dài lịch sử dân tộc không phải là dài, nhưng đối với một đất nước chật vật tìm con đường phát triển như chúng ta thì quả là khoảng thời gian ấy mang nhiều ý nghĩa của sự đổi thay.
Nền kinh tế trăn trở nhiều phen, biết bao con người nổi trôi theo số phận. Bây giờ là năm 2010, thành quả đổi mới gần một phần tư thế kỷ tuy chưa cho chúng ta thỏa mãn những ước mơ, nhưng rõ ràng đã đưa đất nước thoát khỏi một thời kỳ dài đầy khó khăn. Minh họa có tính thuyết phục cho thực tế này là thu nhập bình quân đầu người của chúng ta - theo Ngân hàng Thế giới - vào những năm cuối thập niên 1970 chỉ mới 40 USD, đến năm 2009 là 1.000 USD, vượt qua ngưỡng nghèo khó.
Số liệu này tuy chưa khả quan nhưng lại mang nhiều ý nghĩa khi mà cuộc chiến tranh dai dẳng và khốc liệt kết thúc vào năm 1975 đã làm tiêu hao biết bao nội lực của nền kinh tế. Nhiều nhà bình luận thời cuộc nước ngoài gần đây nhìn tình hình kinh tế Việt Nam 35 năm qua, đặc biệt là trong mấy năm gần đây, cho rằng chúng ta đã có những bước vượt khó thần kỳ. Tất nhiên cũng không nên để bị ru ngủ bằng những lời ngọt ngào, nhưng nếu đánh giá một cách công bằng thì có được như hôm nay không hề là chuyện đơn giản nếu chúng ta nhớ lại những ngày đầu...
Ảnh: videoviet.com
Mười năm sau ngày thống nhất đất nước, với một nền kinh tế lấy nông nghiệp làm nền tảng, hợp tác hóa nông nghiệp được coi là cơ sở tạo ra những giá trị để phát triển công nghiệp. Các dịch vụ thì được coi là phi sản xuất, còn khu vực kinh tế tư nhân được xem là một hình thức bóc lột. Hoạt động kinh tế trong những năm ấy lấy thương nghiệp quốc doanh làm nòng cốt nhưng giá cả không đồng nghĩa với giá trị mà chỉ để phục vụ cho công tác kế hoạch thống kê, doanh nghiệp quốc doanh thì chỉ biết chờ nguồn vốn do Nhà nước cấp phát.
Cho đến năm 1979, nền kinh tế kế hoạch hóa không mang lại tăng trưởng đáng kể, GDP chỉ tăng 0,4%/năm trong khi hằng năm dân số lại tăng 2,3%, điều này giải thích tại sao người dân cứ phải sống khổ, sống nghèo.
Tình hình xã hội ngày ấy có những diễn biến xấu với mức lạm phát lên đến 487% vào năm 1986, thêm vào đó là những dự báo không thuận lợi về nguồn viện trợ của Liên Xô, khẩu hiệu "Đổi mới" của chúng ta được ra đời trong một quyết tâm đi vào cơ chế kinh tế có xu hướng thị trường.
Vào năm 1991, biến động chính trị ở Liên Xô khiến nguồn viện trợ giảm dần và chấm dứt hẳn. Cơ chế thị trường từ công cuộc đổi mới không chỉ giải tỏa được áp lực về tài chính mà còn tạo sự tăng trưởng kinh tế ngoạn mục. Liên tục từ 1991 đến 1996, GDP tăng từ 6,1% lên 9,3%.
Đổi mới vẫn đơm hoa kết trái vào năm 1996 được biểu hiện qua tốc độ tăng trưởng GDP liên tục. Cùng lúc, bản chất hai mặt của kinh tế thị trường xuất hiện đầy đủ hơn đã tạo ra tâm lý lo sợ "chệch hướng" khiến một số chính sách bị điều chỉnh đã làm giảm đáng kể tốc độ phát triển. Thêm vào đó cuộc khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997 đã ít nhiều tác động khiến cho mức tăng trưởng vào năm 1998 chỉ vào khoảng 5,8% rồi 4,7% vào năm sau đó. Cùng lúc với sự sút giảm đầu tư nước ngoài khá nghiêm trọng là sự chựng lại của nền kinh tế mà sau lưng là một gánh nặng về cải cách hành chính và hơn 50% doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ.
Tình hình không mấy sáng sủa này đã thôi thúc chúng ta tìm cách vượt khó với chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm từ 2001 đến 2010. Đại hội IX của Đảng (năm 2001) đã đề ra mục tiêu đưa đất nước cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Theo các tiêu chí được đề cập khái quát trong một số văn kiện cũng như tài liệu của cơ quan nghiên cứu, về kinh tế chúng ta có thể nắm bắt được một số tiêu chí định hướng như sau:
- GDP từ 180 đến 200 tỉ USD. Tốc độ tăng trưởng GDP/năm giai đoạn 2006-2020 là 9,2-10%. GDP bình quân đầu người 1.800 - 2.000 USD.
- Tỷ trọng giá trị nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ trong GDP là 10 - 44 - 46%. Tỷ lệ xuất khẩu hàng chế tác trong tổng xuất khẩu hàng hóa là 75%. Tỷ lệ xuất khẩu hàng công nghệ cao trong tổng xuất khẩu hàng chế tác là 30%.
- Điện bình quân đầu người: 2.200 kwh/người.
- Tỷ lệ đường bộ rải nhựa (tỉnh, huyện, xã): 50-100%.
- Giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ: 108 tỉ USD.
- Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hằng năm: 9,4%.
- Về xã hội: dân số 100 triệu người. Tốc độ tăng dân số hằng năm dưới 1%. Tỷ lệ dân số sống dưới mức nghèo: dưới 5%. Tỷ lệ dân số thành thị: 50%. Chỉ số HDI: 0,8.
- Tỷ lệ chi phí cho giáo dục trong GDP: 5%. Tỷ lệ trẻ em nhập học trong tiểu học, trung học: 100%.
- Tỷ lệ chi phí cho y tế trong GDP: 4,1%. Tỷ lệ dân số sử dụng nước sạch (thành thị và nông thôn): 100%.
Điều đáng nói là nếu đạt được các tiêu chí định lượng này đến năm 2020, thì kinh tế Việt Nam cũng mới tương đương với Thái Lan ở thời điểm 2007.
Năm 2009, trải qua nửa chặng đường, nhưng chỉ đối chiếu một vài số liệu cũng đã không cho chúng ta có cái nhìn lạc quan về thành quả của quá trình công nghiệp hóa: GDP ở mức ở mức 82 tỉ USD, tốc độ tăng trưởng GDP trung bình trong những năm gần đây chỉ trên 7%, GDP bình quân đầu người mới ở mức 1.000 USD. Xuất khẩu thì sản phẩm xuất thô chiếm đa phần, tổng kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt chưa đến 60 tỉ USD, nhập siêu ở mức 12 tỉ USD.
Tất nhiên công nghiệp hóa còn bao gồm nhiều nội dung khác, như tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Đó còn là quá trình tăng cường nguồn lực khoa học công nghệ, thân thiện và bảo vệ môi trường theo quan điểm phát triển bền vững.
Và những định hướng trên đây, đã qua nửa chặng đường mà chúng ta vẫn còn ngổn ngang trăm mối, do tâm lý nóng vội phát triển kinh tế bằng mọi giá.
Nhiều chuyên gia kinh tế đã rất có lý khi nhận định quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của chúng ta đang vấp phải không ít trở ngại, chủ yếu là (1) Hạn chế khung pháp lý đối với việc kích thích lực lượng sản xuất qua ba bộ luật dành cho ba loại doanh nghiệp có nguồn gốc sở hữu khác nhau (nhà nước, tư nhân, nước ngoài), khó tạo nên một sức mạnh tổng hợp, (2) Định hướng phát triển doanh nghiệp chưa theo tín hiệu của thị trường trong một cơ chế kinh tế lạc hậu dựa trên lợi thế tài nguyên và (3) Nội lực là sức mạnh của các yếu tố sản xuất trong nước bao gồm con người, kỹ thuật, đất đai, tài nguyên, vốn liếng, nhưng đến nay vẫn chưa được phát huy đúng mức. Đặc biệt nhân lực - nguồn lực quan trọng nhất - thì việc đào tạo lại chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế.
Có thể nói đến nay thì ước mơ trở thành một nước công nghiệp trong vòng mười năm tới của chúng ta sẽ khó thực hiện. Nếu cố gắng của chúng ta không đạt được mục đích thì cũng nên xem đó là chuyện bình thường, nhất là khi cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đang diễn ra có thể kéo dài nhiều năm mà tác động của nó không chừa bất cứ nền kinh tế nào, giá cả thị trường thế giới biến động theo chiều hướng xấu, đầu tư nước ngoài giảm sút.
Nhìn lại lịch sử nước ta, công nghiệp hóa - hiện đại hóa không phải là sản phẩm của thế kỷ XXI. Vào năm 1863, Nguyễn Trường Tộ đã có một bản điều trần gửi vua Tự Đức đề xuất các biện pháp canh tân đất nước theo hướng công nghiệp hóa, như phát triển công nghiệp khoáng sản và luyện kim, vay vốn ngân hàng nước ngoài để phát triển công nghệ, học tập kiến thức hiện đại của phương Tây, mở rộng giao thương với thế giới. Nhưng đề xuất của ông đã không được vua quan triều Nguyễn nghe theo, vì thiếu thông tin từ bên ngoài nên không nhận thức đúng thời cuộc.
Phong trào Duy Tân và Đông Du của các chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh cuối thế kỷ XIX mang hoài bão lớn về một nước Việt Nam phát triển ngang tầm các nước tiên tiến cũng thất bại vì thiếu yếu tố con người, trong khi muốn tuyệt đối đi theo con đường của phương Tây mà bỏ qua yếu tố nội lực.
Đó là những bài học quý báu nếu chúng ta muốn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Yếu tố nội lực ấy chính là cơ cấu kinh tế hiện còn lạc hậu, rất cần được thay đổi. Mục tiêu hoàn thành công nghiệp hóa vào năm 2020 nên chăng trước tiên cần phải thực hiện bằng được mục tiêu hoàn thành chuyển đổi cơ cấu kinh tế với các định hướng cụ thể:
- Nông nghiệp là nguồn nội lực, là lợi thế cơ bản của nước ta, nhưng cũng là nhược điểm vì sử dụng quá nhiều lao động. Chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp là làm sao giải quyết được hai vấn đề: (1) Tăng năng suất lao động nông nghiệp để giảm bớt lao động khu vực này và (2) Tạo khả năng cung ứng lao động cho công nghiệp đang cần phát triển. Muốn làm được điều này, Nhà nước cần đầu tư thêm cho nông thôn và tạo điều kiện cho nông dân tích lũy để hướng tới nền nông nghiệp hàng hóa đa dạng, có giá trị gia tăng lớn.
- Trong công nghiệp, cần xem lại khái niệm chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước. Thành phần kinh tế này chỉ nên chiếm lĩnh các ngành then chốt, sử dụng nhiều vốn, kỹ thuật cao. Kinh tế tư nhân cần được tạo điều kiện hơn nữa để đầu tư vào các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, như sản xuất hàng tiêu dùng chẳng hạn. Cần phá vỡ thế độc quyền của doanh nghiệp nhà nước trong các lĩnh vực mà kinh tế tư nhân có điều kiện phát triển.
- Về thị trường, việc chuyển dịch cơ cấu cần nâng cao khả năng cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường nội địa rộng lớn lâu nay vẫn do hàng hóa nước ngoài chi phối, đặc biệt là các hàng máy móc, công nghệ, điện tử.
- Về đầu tư, Nhà nước cần tập trung nguồn vốn cho các công trình hạ tầng, vừa tạo nhiều việc làm cho người lao động vừa tăng giá trị đất đai và các nguồn tài nguyên khác.
Chiếc máy bay muốn cất cánh trên đường băng thì cần một vận tốc đầu thật cao. Nền kinh tế của chúng ta muốn nhanh chóng cất cánh trên đường băng cũng cần một tốc độ tăng trưởng thích ứng.
Với một cơ cấu kinh tế còn nhiều lực cản như hiện nay, liệu có đường băng nào đủ độ dài cho con tàu kinh tế của chúng ta cất cánh!

"Người nam châm" - thay đổi năm mới, thay đổi cả đời


Tác giả: HÒA BÌNH

Giữa dòng người tấp nập trên các phố đông, giữa công sở ồn ào, phim trường nóng bỏng, sân khấu đỏ đèn, hàng chợ đông vui, hay khi nằm trên giường bệnh vắng vẻ im lìm, giây phút nào bạn dừng lại tự hỏi: Bạn là ai? Đến trên đời này để làm gì? Tại sao cuộc sống lại tồi tệ như thế? Và liệu có khi nào được chạm tới thiên đường?
Chính bạn phải hành động
Bạn có bao giờ băn khoăn tại sao mỗi ngày tỉnh giấc là bắt đầu một mệt mỏi mới, bức xúc mới, mâu thẫn mới với tất cả những gì có thể. Họp muộn, không kịp ăn sáng, công việc ách tắc, sếp phê bình, nhân viên phản ứng, đau đốt sống cổ, thoái hóa vài đốt sống khác, buộc phải đi nhậu tới mức quay đơ vì đối tác thích thế, vợ giận (chồng cáu kỉnh), con cái gây ra nhiều lỗi lầm, hàng ế ẩm, lợi nhuận ít, giá tiêu dùng tăng chóng mặt...
Bạn có bao giờ nghĩ rằng chính mình chứ không phải ai khác, có thể thay đổi cuộc sống hiện tại của mình, và kiến tạo nên một tương lai tươi sáng như bạn mong ước?
Chúng ta không thể trở thành người chúng ta muốn nếu chúng ta cứ mãi là chúng ta. Để bắt đầu sự thay đổi, tôi muốn dẫn thêm lời của Ralph Waldo Emerson, triết gia, nhà thơ, người lãnh đạo phong trào Người theo thuyết tiên nghiệm đầu thế kỷ XIX: "Một khi bạn đưa ra quyết định, vũ trụ sẽ hiệp lực với bạn để biến điều đó thành hiện thực".
Bạn là một thỏi nam châm sống
Có thể bạn xa lạ với những bí mật của Luật hấp dẫn, nhưng tinh khiết và đơn giản, bạn được tạo ra từ những "nguyên liệu" giống như mặt trời, mặt trăng và những vì sao. Bạn là tập hợp của một luồng sinh khí có trí tuệ, biết đi, biết nói và tồn tại dưới dạng một cơ thể con người.
Hãy nhìn sâu vào bản thể của chính mình. Bạn là một thỏi nam châm sống. Bạn hút, theo đúng nghĩa đen của từ này, người, vạn vật, ý tưởng và các tình huống có tần số năng lượng rung động và cộng hưởng như của bạn về phía mình.
Trường năng lượng của bạn thường xuyên thay đổi, nó phụ thuộc vào suy nghĩ và cảm xúc của bạn. Vũ trụ giống như một chiếc gương phản chiếu chính xác nguồn năng lượng mà bạn đã tạo ra. Suy nghĩ, cảm xúc của bạn mãnh liệt bao nhiêu thì lực hút sẽ mạnh bấy nhiêu. Thế nên, nếu bạn tỏa ra toàn những chán chường, mệt mỏi, hận thù, ganh ghét, đố kị, giả trá, cũng dễ dàng tưởng tượng bạn sẽ nhận lại điều gì.
Biết ơn hiện tại để kiến tạo tương lai
Mỗi chúng ta đều có khả năng giả dối với con người và vạn vật quanh mình nhưng vũ trụ biết sự thật. Cảm xúc không nói dối chúng ta. Cảm xúc cũng không đòi hỏi chúng ta phải làm đẹp lòng nó nhưng ta cho gì thì sẽ nhận lại y như thế. Chúng ta gần như miễn nhiễm với tội ác, bạo lực, sự đồi trụy... Sự tiêu cực rất xảo quyệt, nó len lỏi vào cuộc sống của chúng ta từng giờ từng phút, và phổ biến hàng ngày, mọi nơi chốn, tới mức trở nên bình thường.
Vậy nên, cố gắng học cách tha thứ là một trong những nỗ lực đầu tiên để thay đổi thực tại. Trước hết là tha thứ cho chính mình, nếu bạn chưa từng tha thứ cho mình một điều gì đó, làm sao bạn có thể trông chờ bạn sẽ tha thứ cho người khác được. Sau nữa là bao dung với cuộc sống. Hãy tưởng tượng, nếu bạn cười với người bên cạnh, kể cả sau cuộc cãi vã, không có lý gì, người đó lại đấm vào mặt bạn để đối đáp lại nụ cười.
Nếu có thể tha thứ cho cuộc sống chồng chất tội lỗi và dối gạt quanh ta, điều đó sẽ thật sự giống như chất tẩy rửa cực mạnh, làm sạch tâm hồn và giúp bạn di chuyển từ nơi đau thương, giận dữ sang chốn bình yên. Bạn cho đi yêu thương và sẽ nhận lại cùng tần số của những rung cảm thấu hiểu. Bằng cách tỏ lòng biết ơn quá khứ và hài lòng với hiện tại, bạn sẽ dọn đường cho tương lai với những điều tốt đẹp.
Thay đổi suy nghĩ của chính mình
Nếu bạn nghĩ nhiều về điều gì, điều đó sẽ trở thành chính bạn. Vì thế, thay vì "tôi không muốn bị muộn giờ", hãy nghĩ "Tôi muốn đúng giờ"; thay vì "Tôi không muốn quên việc A, B, C...", hãy nghĩ "Tôi muốn nhớ..."; thay vì "Tôi không thể", bạn sẽ chuyển hướng tới "Tôi có thể bắt đầu bằng..."
Bởi vì quyền năng của bạn là vô biên. Không có bức tường nào đứng chắn trước mặt bạn ngoài sự trì trệ và vô cảm của chính bạn. Hơn nữa, những nỗ lực của bạn sẽ làm đổ hoặc chọc thủng bất cứ bức tường nào, nếu có. Người nào gửi đi những suy nghĩ tích cực sẽ kích hoạt thế giới quanh anh ta trở nên tích cực, và anh ta cũng nhận lại những kết quả tích cực.

Mỗi chúng ta được sinh ra trên đời với một mục đích sống khác nhau. Để theo đuổi thiên mệnh, có người lao vào làm khoa học, người khác chỉ là công nhân quét rác. Cá biệt có những số phận sẵn sàng bỏ chốn giàu sang quý tộc để ẩn dật ở nơi thôn dã (như nhà văn Nga nổi tiếng thế giới Lép Tônxtôi, hoặc tặng hết toàn bộ tiền nong cho các quỹ từ thiện, rời bỏ văn minh để tìm lại bản thể trong chốn hoang sơ tận cùng thế giới, không một xu dính túi, không bất kỳ phương tiện nào hỗ trợ cuộc sống, và chết trong rừng thẳm, như cậu bé Christopher Johnson McCandless (Mỹ), nổi tiếng khi trở thành nhân vật đặc biệt của cuốn sách Tìm trong hoang dã (Into the Wild). Nhưng, ngay cả những thân phận bình thường nhất trong cuộc sống, ai cũng đều có riêng một hành trình bí ẩn và độc đáo.
Điều quan trọng nhất cần phải xác định: "Bạn là ai? Đến trong đời này để làm gì"? Hãy nhìn thấu ước mơ của cả cuộc đời bạn, và khởi động cho những chuỗi ngày đam mê, phóng khoáng, tràn trề sinh lực sống. Bởi, như triết gia và thi sĩ người Ý Seneca đã nói, thì "Những người không biết chính mình muốn đi về đâu làm sao có thể tới đích được".
Tôi không phải là người phát hiện ra những điều "thần bí" này. Các học giả lớn, các triết gia, thi sĩ, nhà chính trị, kinh tế lớn trên thế giới đã nói về điều này từ rất lâu. Nhưng không phải ai trong chúng ta cũng từng nghe điều đó. Và tôi muốn nỗ lực chuyển nó tới bạn. Trong những ngày đầu tiên của năm mới, nếu bạn có duyên cầm trên tay cuốn sách nhỏ Người nam châm (tác giả Jack Canfield và D.D Watkins - Thái Hà Books ấn hành), bạn sẽ có cơ hội thay đổi năm 2010 và làm mới cả cuộc đời.(TUANVIETNAM.net)

Những ngộ nhận về sức mạnh mềm


Tác giả: KHÁNH DUY

Stalin từng hỏi mỉa mai: “Liệu Giáo hoàng có bao nhiêu binh đoàn? Chúa chỉ đứng về phe của những binh đoàn lớn mạnh mà thôi” - Stalin đã ngộ nhận về ảnh hưởng to lớn của “sức mạnh mềm”.
Stalin hỏi câu hỏi ấy trong thế chiến II khi nghe nói rằng Giáo hoàng thời đó chống lại các chính sách của ông. Lịch sử nửa thế kỷ sau đã chứng minh Stalin đã sai, dù không có trong tay một binh sỹ, Giáo hoàng John Paul II người Ba Lan đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự sụp đổ của chế độ xã hội kiểu Stalin ở Ba Lan. Mô hình Stalin sụp đổ ở Nga và các nước Đông Âu nhưng nhà thờ Thiên chúa giáo vẫn thịnh trị.
Không chỉ Stalin, rất nhiều chính trị gia và học giả trên thế giới từng không coi trọng ảnh hưởng của sức mạnh mềm cho tới khi GS. Joseph Nye khơi nguồn và hệ thống hóa lý thuyết này trong cuốn sách Sức mạnh mềm - các phương thức để thành công trong chính trị quốc tế.
Cuốn sách đã không chỉ nhấn mạnh tầm quan trọng mà còn làm sáng tỏ nhiều ngộ nhận khác về sức mạnh mềm và ảnh hưởng của nó.
Ngộ nhận 1: Ảnh hưởng bằng "sức mạnh mềm" là "âm mưu" của phương Tây
Chiến tranh lạnh kết thúc với sự tự chuyển đổi của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu sang mô hình tư bản chủ nghĩa Tây Âu. Nhiều ý kiến cho rằng phương Tây đã dùng những "thủ đoạn" và "âm mưu thâm độc" để truyền bá văn hóa và tư tưởng tự do của họ khiến Đông Âu sụp đổ. Và đến giờ, Mỹ vẫn tiếp tục những âm mưu "diễn biến hòa bình" như vậy với những quốc gia còn chưa đi vào quỹ đạo của Hoa Kỳ.
Sự thực là Mỹ có nhiều "sức mạnh mềm" từ phim Hollywood, văn hóa Pop, giải Nobel, nền giáo dục, hệ giá trị tự do, dân chủ... Sức mạnh đó có sức hấp dẫn đặc biệt và là một nguyên nhân khiến các nước khác tự chuyển đổi để hướng về.
GS Nye viết: "Trước khi bức tường Berlin sụp đổ vào năm 1989, nó đã bị xuyên thủng bởi truyền hình và phim ảnh. Những người cầm búa và đẩy xe ủi đã không làm thế nếu trong nhiều năm trước, họ không bị ảnh hưởng mạnh bởi những hình ảnh về một nền văn hóa đại chúng phương Tây".
Tuy vậy, không phải tất cả đều là ý đồ của chính quyền phương Tây, ngược lại, rất nhiều nguồn lực quan trọng của sức mạnh mềm "hoàn toàn nằm ngoài sự kiểm soát của chính phủ, và ảnh hưởng của chúng phụ thuộc nhiều vào sự chấp nhận của đối tượng".
Ví dụ nền văn hóa nhạc Pop của Mỹ mang đậm phong cách "tự do, cởi mở, năng động, cá nhân, đa dạng..." ảnh hưởng mạnh đến tâm lý giới trẻ toàn thế giới. Hay những bộ phim Hollywood trong đó nhân vật viện đến luật sư để bảo vệ quyền lợi "có thể hiệu quả hơn nhiều so với những diễn văn của Đại sứ Mỹ về tầm quan trọng của pháp quyền".
Tuy vậy, chính phủ Mỹ hoàn toàn không kiểm soát nhạc Pop hay phim Hollywood. Sự phát triển của chúng là tự thân, và người dân các quốc gia khác cũng chấp thuận chúng một cách tự nguyện. Đó là sức hấp dẫn tự nhiên của những hệ tư tưởng hợp lý.
Ngộ nhận 2: "Sức mạnh mềm" của nước Mỹ là "giả tạo"
Nước Mỹ trong nhiều giai đoạn lịch sử đã tự phá hủy "sức mạnh mềm" của mình. Những giá trị Mỹ như tự do, dân chủ, nhân quyền, cởi mở... bị coi là những lời rao giảng giả tạo khi chính quyền Mỹ tham chiến ở Việt Nam, xâm lược Iraq, đánh Afghanistan, xây dựng nhà tù Abu Ghraib...
GS. Nye chỉ rõ ranh giới cần thiết để có những nhìn nhận hợp lý. Theo ông, sức mạnh mềm của một quốc gia là sự hợp nhất của ba thành tố: văn hóa, hệ giá trị và những chính sách.
Những động thái bào mòn sức mạnh mềm của Mỹ như trên chủ yếu xuất phát từ những chính sách sai lầm của chính quyền Mỹ trong mỗi giai đoạn. Nước Mỹ phải tự chuộc lỗi và lấy lại hình ảnh của mình bằng những chính sách mới. Nhưng không vì thế mà nhầm lẫn giữa chính sách và hai yếu tố còn lại là văn hóa và hệ giá trị.
GS Nye viết: "Trong thập kỷ 1970, thời chiến tranh Việt Nam, nước Mỹ đã tự đánh mất sức hấp dẫn của mình ở nhiều nơi trên thế giới, nhưng qua thời gian với những chính sách thay đổi, Hoa Kỳ đã tìm được cách hồi phục lại được sức mạnh mềm. Điều đó có thể lặp lại trong giai đoạn này".
Chính sách luôn thay đổi nhưng hệ giá trị Mỹ là trường tồn và văn hóa nước Mỹ có những điểm hấp dẫn đặc biệt với các quốc gia khác. Không phải ngẫu nhiên khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa những giá trị độc lập, tự do của các nhà sáng lập ra nước Mỹ vào bản tuyên ngôn độc lập bất hủ của Việt Nam.
Chủ tịch CHDCND Triều Tiên Kim Jong Il chắc chắn không thích chính sách của Mỹ nhưng ông lại là một người nghiện phim Hollywood. Vì thế, không thể và không nên vì những chính sách "ông lớn" của chính quyền Mỹ mà phủ nhận toàn bộ những giá trị trong tư tưởng và văn hóa Mỹ.
Ngộ nhận 3: "Sức mạnh mềm" không hiệu quả do khác biệt văn hóa

Sức mạnh mềm được định nghĩa là khả năng ảnh hưởng tới thực thể khác thông qua sức hấp dẫn và hợp tác chứ không phải bằng vũ lực hay tiền bạc. Sức mạnh mềm của một quốc gia xuất phát từ văn hóa, hệ giá trị và chính sách.
Một ngộ nhận khá phổ biến khác là không thể du nhập những giá trị "mềm" từ phương Tây do sự khác biệt và không đồng nhất về lịch sử hay văn hóa.
GS. Nye thừa nhận nếu văn hóa có nhiều tương đồng thì sự giao thoa và ảnh hưởng lẫn nhau bằng sức mạnh mềm sẽ dễ dàng hơn. Ví dụ, sự khác biệt giữa Mỹ và châu Âu chắc chắn ít hơn nhiều so với giữa Mỹ và các nước Trung Đông. Châu Âu sẽ dễ tiếp nhận giá trị "mềm" từ Mỹ hơn Trung Đông.
Tuy vậy, GS Nye viết: "Mặt khác, sự khác biệt văn hóa không ngăn chặn dân chủ bén rễ ở Nhật Bản và Hàn Quốc, cho dù với Hàn Quốc phải chậm hơn bốn thập kỷ. Dân chủ cũng thành công ở những quốc gia Hồi giáo như Thổ Nhĩ Kỳ hay Bangladesh. Rào cản văn hóa không cao tới mức không thể vượt qua nổi".
Trong sáng, đơn giản và lôi cuốn là đặc trưng trong cách lập luận của GS. Joseph Nye. Ông đã giúp người đọc xóa bỏ bức màn ngộ nhận về tầm ảnh hưởng của sức mạnh mềm.
Cho tới nay, tính hợp lý trong học thuyết của GS. Joseph Nye vẫn chưa bị thách thức. Chỉ có điều, không ít người đã tự hỏi liệu "sức mạnh mềm" của Nye có ngược với nhà tư tưởng chính trị lừng danh thời Phục hưng Machiavelli. Ông này luôn coi trọng "sức mạnh cứng" của đấng quân vương và cho rằng bậc quân vương tốt hơn hết là nên làm cho người khác sợ hơn là làm cho họ yêu.
Joseph Nye đã đáp lại thật hóm hỉnh ngộ nhận ấy trong một bài báo trên tờ The South China Morning Post năm 2008: "Nhưng chúng ta thi thoảng đã quên mất rằng đối lập với yêu không phải là sợ mà là ghét. Machiavelli cũng đã nói rõ rằng bị ghét là điều mà đấng quân vương nào cũng nên tránh..." (TUANVIETNAM.net)

Avatar và sự ngạo mạn của loài người



Avatar và sự ngạo mạn của loài người

"Loài người chỉ là những đứa trẻ, chỉ biết la lối om sòm nhưng không bao giờ chịu bình tĩnh để hiểu mọi việc".
Khi bộ phim "KingKong" ra mắt năm 2005, nhiều người đã phải trầm trồ thốt lên: Không có gì là điện ảnh không làm được. Nhưng đến giờ thì những kĩ thuật của KingKong cũng chỉ xếp hàng em út trong gia đình điện ảnh Hollywood.
Lịch sử điện ảnh đã chứng kiến nhiều bước ngoặt về kĩ thuật và sức tưởng tượng phi thường của con người. Nhưng tất cả đều mau chóng bị trở nên quá quen thuộc, lạc hậu. Và khán giả sẽ chán ngay lập tức.
Các đạo điễn khó lòng đọ sức tưởng tượng của mình với đầu óc tò mò, hiếu kì không giới hạn của khán giả. Những sự đột phá về kĩ thuật, những tham vọng "kỉ nguyên màn ảnh mới" cũng chỉ là thứ màu mè thu hút được đám đông hiếu kì, mau chán.
Sức nóng công nghệ 3D lần đầu tiên được trình chiếu trong Avarta rồi cũng nguội dần. Sẽ còn lại gì ở bộ phim này? Cái gì thực sự làm nên James Cameron?

Jake - người có trái tim không sợ hãi - và anh chính là "người được chọn". Ảnh: IMDB

"Chén của anh đã đầy"
Khi mới bước vào thế giới của người Na'vi, Jake Sully gặp cô gái bản địa tên Neytiri. Nhưng cô đã khước từ không cho anh bước tiếp vào thế giới này. Lý do thứ nhất là "chén của anh đã đầy". Điều này có gốc gác từ một câu chuyện nhà Thiền.
Một vị sư trẻ ngồi đối ẩm với sư phụ. Anh ta đang băn khoăn và trăn trở về nhiều chuyện mà chưa có lời giải. Vị sư già không nói gì, cầm ấm nước lên rót thêm trà lên một chén trà đã đầy, nước trà trào cả ra ngoài. Vị sư trẻ tưởng thầy mình lơ đãng, đưa tay can: thưa sư phụ, chén trà đã đầy, thầy rót thêm vào sao được nữa.
Sư phụ ngừng lại bảo: Đúng thế. Chén trà đã đầy, ta không thể rót thêm được nữa. Muốn rót trà mới, ta phải đổ chén trà cũ đi.
"Chén đã đầy" là nói đến đầu óc, tư tưởng của những người đã chứa đựng đầy thành kiến, nếu không giải phóng thì không thể tiếp nhận những tri thức mới được.
Cô gái Neytiri không chấp nhận Jake bước vào thế giới của người Na'vi, bởi vì cô nghĩ "chén của anh" đã đầy.
Nhưng thật may mắn, "Tôi không phải là nhà khoa học. Tôi chỉ là một lĩnh thủy đánh bộ" - Jake trả lời.
Không phải là nhà khoa học, nghĩa là Jake đã không bị vướng mắc vào hàng ngàn rào cản về cái nguyên tắc và phi nguyên tắc, hợp lý và phi lý, có thể và cái không thể - những tri thức nhận biết dựa trên nền tảng khoa học thực nghiệm.
Thật kì diệu, trong bộ phim đang gây thu hút hiện nay mang tên "2012", cũng có sử dụng điển tích này. Chắc hẳn không thể coi đó là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Dường như người hiện đại phương Tây đang bình tĩnh hơn để tìm về cội nguồn phương Đông?
Thử thách cuối cùng: chế ngự ý niệm
Thử thách cuối cùng của Jake để được chính thức được công nhận là một thành viên của cộng đồng Omaticaya là phải tìm được cho mình một sinh vật bay - Banshee, kết nối thành công và cưỡi nó.
"Nhưng làm thế nào để nhận biết được Banshee nào dành cho mình?" - "Đó là con nào cố gắng giết chết anh."
Định nghĩa buồn cười thật. Banshee cố gắng giết chết anh, đó chính là con dành cho anh - nếu như anh thu phục và kết nối được với nó.
Nhưng thực ra nó không buồn cười đâu. Banshee là ẩn dụ về ý niệm của con người. Những ý nghĩ biểu hiện ngông cuồng, giận dữ, và có thể giết chết anh theo một cách nào đó. Nhưng chỉ cần anh không sợ hãi - cũng như Jake - người có trái tim không sợ hãi - thì anh sẽ là "người được chọn".
Không có sự sợ hãi, thì thu phục được Banshee. Điều kiển được ý niệm của mình, thì nó trở nên hiền hòa và hoàn toàn phục tùng sự kiểm soát của người cưỡi nó. Và đó chính là phương tiện để đến với cái Cây Linh Hồn.
Cây Linh Hồn là điểm kết nối để lắng nghe tiếng của "ông bà" (ancestor), lắng nghe sự kì bí của thiên nhiên và vũ trụ. Cái Cây Linh Hồn là điểm hợp nhất của mọi âm thanh và là hợp nhất của toàn thể.


Các khái niệm "Cây Linh Hồn"  hay "mẹ Eywa" cũng đều chỉ là những biểu tượng để biểu đạt ý niệm về về cội rễ chung và thống nhất của vạn vật. Ảnh: IMDB

Nhưng, "loài người chỉ như những đứa trẻ"
"Loài người chỉ là những đứa trẻ, chỉ biết la lối om sòm nhưng không bao giờ chịu bình tĩnh để hiểu mọi việc."  Đó lại là một lý do nữa để cô gái bản địa từ chối Jake bước vào thế giới này.
Để "san bằng bất cứ thứ gì ngự bên trên đống tài nguyên quý", "loài ngoài văn minh - những đứa trẻ chỉ biết la lối om sòm" đã biểu dương sức mạnh của mình bằng đủ loại thiết bị tối tân nhất. Tăng cường quân sự. Thuốc nổ. Bom. Robot.
Con người đến từ thế giới văn minh đã quá ngạo mạn và quá tự tin vào sức mạnh kĩ thuật của mình. Nhưng đó chỉ là sự sức mạnh phá hủy. Như chính cách mà con người đã làm ở "trái đất đã không còn màu xanh" của mình.
Cảnh báo của Tiến sĩ Grace về những cái Cây Linh Hồn với mạng kết nối khổng lồ, hơn cả sự kết nối của bộ não con người có thế khiến những kẻ khát tiền phá lên cười. Cũng như các nghi lễ cầu xin đức mẹ Eywa có thể bị coi là nghi lễ tôn giáo, "phi khoa học". (!)
Những niềm tin về một "suối nguồn năng lượng", rằng mỗi chúng ta đều là một sinh thể chuyền tải năng lượng, một ngày nào đó sẽ phải trả lại nguồn năng lượng đó. Chúng ta xuất phát từ một nguồn năng lượng duy nhất; rằng ông bà chúng ta vẫn sống, chúng ta có thể nghe họ. Và rằng chúng ta có thể kết nối với tổ tiên của mình, với với cái toàn thế... đều không đơn giản chỉ là giả thuyết cho một bộ phim.
Trong phim nhắc đến chữ "thấy" -  "Tôi thấy em" (I see you), Đức mẹ Eywa đã "nghe thấy" anh (Eywa heard you).
Cái "thấy" - hay "tính thấy" - không phải là sự nhìn thấy đơn thuần, mà là sự kết nối thực sự giữa hai tinh thần, giữa tinh thần ở các thế hệ khác nhau, và tinh thần của tất cả.
Các khái niệm "Cây Linh Hồn"  hay "mẹ Eywa" cũng đều chỉ là những biểu tượng để biểu đạt ý niệm về về cội rễ chung và thống nhất của vạn vật.
Điều này không xa lạ gì trong đạo Phật. Nó chẳng hề là một điều gì đáng cười. Mà chính là cái mà chính khoa học hiện đại đang phải tìm hiểu.
Chỉ sợ những con người ngạo mạn không biết "lá trong tay ta thì ít mà lá trong rừng thì nhiều". Điều ta biết thì giới hạn, mà điều ta không biết thì không cùng. Chỉ sợ "cái chén đầy".

Con người đến từ thế giới văn minh đã quá ngạo mạn và quá tự tin vào sức mạnh kĩ thuật của mình. Nhưng đó chỉ là sự sức mạnh phá hủy. Ảnh: IMDB

"Trở về với thế giới đang chết dần"
Lời thuyết giảng cho quân lính trước giờ mở cuộc tấn công vào xứ sở Na'vi của đại tá Miles Quaritch: "Chúng ta phải lấy khủng bố để chống lại khủng bổ" và các lệnh hủy diệt tàn bạo của ông ta gợi nhắc về thế giới thực tại của chúng ta. Nơi mà người ta hết sức tự hào về khả năng tạo ra sức mạnh hủy diệt của mình.
Mỉa mai thay, câu nói cuối cùng của viên đại tá đối với Jake: "Cảm giác phản bội lại đồng loại của mình như thế nào" - có lẽ lại chính là câu nói dành cho ông ta.
Và cuối cùng, "những kẻ xâm lăng trở về với thế giới đang chết dần của họ, chỉ một số ở lại". Hay những kẻ ngạo mạn trở về với các đại kế hoạch của họ - những kế hoạch cầm chắc sự thật bài, chỉ có một số người nhận ra sự vĩ đại của thiên nhiên và trở về với thiên nhiên!(TUANVIETNAM.net)